Vì sao chữ Hán cổ và chữ Nôm (Tung Thư) viết từ phải qua trái

Mỗi quốc gia trên trên thế giới có cách viết khác nhau nhưng đa phần sẽ là viết từ trái qua phải, rồi từ trên xuống dưới. Tuy nhiên, sách chữ Hán và sách chữ Nôm cổ đều viết từ trên xuống dưới, từ trái qua phải. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu  nguyên do dẫn đến cách viết khác lạ và độc đáo này

  • Chữ Nôm bắt nguồn từ chữ Hán

Không chỉ Việt Nam, mà khu vực Đông Á có tiếp xúc với chữ Hán trong thời gian dài đa phần chữ viết sẽ có cấu tạo khá giống chữ Hán. 

Việt Nam với dấu mốc lịch sử 1000 năm Bắc thuộc, chữ Hán đã sớm ăn sâu, cắm rễ vào trong tiềm thức người dân khi xưa. Từ năm 939 trở về sau, nước ta đã giành được độc lập. Xong, chữ Hán vẫn đóng vai trò quan trọng trong nâng cao dân trí, trong thi cử, trong quốc sách. Mãi sau này, từ chữ Hán dân tộc ta đã phát triển ra một thể chữ riêng, đó là chữ Nôm. Thứ văn tự này đã được truyền bá và sử dụng phổ biến ở nước ta trong suốt những năm của chế độ phong kiến.

Theo nhiều phân tích, tổng hợp lại thì các nhà nghiên cứu thống nhất rằng, chữ Nôm xuất hiện trong khoảng thời gian từ thế kỉ X đến thế kỉ XII. Chữ Nôm là thể chữ dùng những khối vuông xây dựng trên cơ sở chất liệu chữ Hán để ghi lại tiếng Việt trước khi cho ra đời phương pháp ghi âm tiếng Việt bằng chữ Latinh (chữ quốc ngữ) như hiện nay.

chữ Nôm cổ
  • Trình tự viết chữ Hán cổ đại, chữ Nôm (Tung Thư)

Trước khi xuất hiện thẻ tre, thẻ gỗ, mai rùa và xương động vật được dùng làm vật liệu chính để viết chữ. Khi đó, chữ được viết theo hướng từ trên xuống dưới, nhưng xuất phát từ hai bên trái, phải lại không đồng nhất.

Sau này, khi thẻ tre ra đời thì hướng chữ mới dần được cố định và viết theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái.

  • Vật liệu viết chữ

Xa xưa, người cổ đại dùng mai rùa, xương động vật để khắc chữ, một thời gian sau mới dùng thẻ tre, thẻ gỗ để ghi chép.

Theo ghi chép thì thẻ tre viết chữ tìm thấy sớm nhất vào thời Chiến quốc ở huyện Tùy, Hồ Bắc. Trong khoảng thời gian đó, hầu hết các loại văn kiện như công văn hồ sơ nhà nước hay thư tín cá nhân đều được ghi chép trên thẻ trúc, tre, gỗ.

Thẻ tre trong mộ vua nghi sách Khổng Tử thất truyền 1.800 năm

Mỗi một thanh thẻ có bề rộng khoảng 1cm và được viết viết chữ thành một hàng dọc. Bởi các thẻ có độ dài ngắn khác nhau nên số lượng từ trên mỗi thẻ cũng khác nhau. Ngoài ra còn có một loại thẻ tre có bề rộng chừng 2cm, trên mỗi thẻ này được viết hai hàng chữ dọc. Loại thẻ này được gọi là “Lưỡng hàng” (hai hàng). Thẻ gỗ thông thường rộng hơn thẻ tre “Lưỡng hàng”, có thể rộng tới 6cm, vì có hình tấm bản cho nên còn được gọi là “Thư bản”. Các thẻ này thông thường được dùng dây gai kết lại thành sách. Người ta kết thẻ thành sách trước, sau đó mới viết chữ lên thẻ, chỗ bên ngoài dây thì để trống, không viết.

Bởi vì việc chế tác thẻ tre và thẻ gỗ khá phức tạp. Thêm vào đó, số lượng từ viết trên thẻ chỉ hữu hạn, không được nhiều, mang theo người là không tiện. Cho nên đến thời Tần Hán, người ta dùng lụa mỏng thay cho thẻ tre, thẻ gỗ trở thành vật liệu phổ biến nhất để viết chữ. Những tấm lụa được viết chữ lên ghép lại thành sách, gọi là “sách lụa”

Sách lụa cổ

Mãi sau này, kỹ thuật tạo giấy xuất hiện và không ngừng được cải tiến thì thẻ tre trúc, thẻ gỗ dần dần bị bãi bỏ. Giấy trở thành vật liệu quan trọng nhất, phổ biến nhất để viết chữ.

  • Nguyên nhân viết chữ từ phải qua trái

Ngày xưa chưa có bàn nên khi viết, người ta dùng tay trái cầm bó thẻ, tay phải viết từ trên xuống dưới dọc theo thẻ. Viết hết một thẻ thì gập thẻ đó sang bên phải và viết tiếp vào thẻ bên cạnh. Người ta viết lần lượt từ xa đến gần tay trái như vậy cho đến khi hết. Đây là nguyên nhân khiến cổ nhân viết theo hướng từ phải sang trái. Còn khi mở cuốn sách thì thuận theo tự nhiên là tay phải nâng vật nặng dễ hơn nên tay phải sẽ cầm cuốn sách, tay trái mở sách.

Từ đặc điểm của chữ Hán và thói quen viết chữ của con người mà xét thì thứ tự viết chữ Hán là từ trên xuống dưới, từ trái sang phải. Nếu viết theo chiều từ phải sang trái, thì khi viết được nửa trái của chữ rồi bút lông thường sẽ bị tắc ở phần nửa phải của chữ, khó khăn cho việc tạo kết cấu chữ và ảnh hưởng đến mỹ quan của kết cấu chữ.

Từ sau cách mạng Tân Hợi, người Trung Quốc tham khảo văn hóa phương Tây nên trình tự viết chữ Hán mới đổi thành như ngày nay, đó là viết theo hàng ngang từ trái sang phải.

  • Kết Luận

Cách viết từ trên xuống dưới từ trái qua phải như một nét chấm phá trong văn hóa cổ truyền. Đó là điểm độc đáo, là nét riêng mà mỗi khi nhắc đến sẽ tạo chủ đề, tạo cảm hứng bàn luận. Hy vọng, thông tin từ bài viết trên sẽ giải đáp được thắc mắc mà bấy lâu bạn chưa được giải đáp.

Xem thêm: Nguồn gốc và sự phát triển Hán Nôm của Việt Nam