Tìm hiểu về Thập đại đệ tử của Đức Phật

Chắc hẳn không Phật tử nào không biết đến danh xưng Thập đại đệ tử. Thập đại đệ tử chỉ mười đệ tử xuất sắc nhất của Đức Phật, cùng Ngài xây dựng Tăng đoàn lớn mạnh. Giảng pháp cứu rỗi chúng sinh.

Sau khi thành Phật. Tăng đoàn ra đời. Dưới sự hành đạo khắp nơi đã khiến Đạo Phật dần được biết đến và phổ biến ở nhiều nơi. Trải qua quá trình hành hóa, đệ tử Phật giáo ngày càng tăng lên. Không chỉ những người xuất gia mà cả những người tu tại gia cũng được cho là đệ tử Phật giáo. Trong đó, có 1250 vị đệ tử xuất sắc nhất, chứng được A La Hán. Trong số 1250 vị này, có 10 vị được xem là ưu tú nhất được gọi là Thập đại đệ tử của Đức Phật. Các vị này là những tấm gương sáng về hạnh nguyện, đức tính và cả năng lực đặc biệt. Vậy hãy cùng tìm hiểu 10 vị đại đệ tử của Đức Phật này là ai?

1. Tôn giả Xá Lợi Phất (Sariputra – Sariputta) – Trí tuệ đệ nhất

Tôn giả Xá Lợi Phất cùng với Mục Kiền Liên tầm đạo từ khi còn trẻ. Trải qua khoảng 20 năm tìm kiếm, cuối cùng hai vị tôn giả cũng đã gặp được Đức Phật. Một lòng nguyện gia nhập Tăng đoàn, tu hành đạt được Chánh quả.

Tôn giả Xá Lợi Phất sinh ra trong một gia đình danh gia theo Bà La Môn giáo. Từ nhỏ, Ngài đã nổi danh thông minh, sáng dạ, học hành giỏi giang. Khi nghe Đức Phật thuyết pháp, Ngài đã dùng chính trí tuệ của mình để ngẫm và đắc quả A La Hán mà không cần nhờ đến sự giúp đỡ từ Đức Phật trong vòng bốn tuần. Được Đức Phật khen tặng là Trí tuệ bậc nhất.

Khi tìm đến với Phật, với các phẩm chất như khiêm tốn, tận tụy, nhiệt tình nên Tôn giả Xá Lợi Phất được chư tăng thán phục. Ngài được coi là vị trưởng tử, giữ chức chấp pháp tướng quân. Ngài thường thay Đức Phật giảng dạy cho các đệ tử và hướng dẫn cho nhiều vị được đắc quả A La Hán.

2. Tôn giả Mục Kiền Liên (Maudgalyayana – Moggallana) – Thần thông đệ nhất

Có tuổi thơ gắn liền với Tôn giả Xá Lợi Phất. Tôn giả Mục Kiền Liên cũng lớn lên trong một gia đình Bà La Môn danh giá. Đôi bạn sau khi nhận ra sự khổ của đời người đã dốc lòng đi tìm đạo. 

Để rồi cùng nhau quy y cửa Phật, trở thành một trong số những đệ tử xuất sắc nhất của Đức Phật.

Không như Tôn giả Xá Lợi Phất. Mục Kiền Liên gặp phải chướng ngại về hôn trầm trong quá trình tu tập. Nhờ sự theo dõi và chỉ dạy từ Đức Phật, Tôn giả Mục Kiền Liên đắc quả A La Hán chỉ trong vòng bảy ngày. Sở hữu nhiều phép thần thông. Ngài đã nhiều lần thi triển thần thông như phương tiện để giáo hóa, cứu độ cho mọi người. Được xưng danh là “Thần thông đệ nhất”.

Bên cạnh đó, Ngài cùng với Tôn giả Xá Lợi Phất điều hành, hướng dẫn Tăng chúng và độ cho nhiều người được chứng đắc thánh quả. Tuy nhiên, sau đó Tôn giả Mục Kiền Liên bị phái Ni Kiền Tử hãm hại rồi mất. Đức Phật đã xác nhận ngay tại chỗ thọ nạn, Mục Kiền Liên đã gia nhập Niết Bàn.

Xem thêm : Tóm tắt cuộc đời Tôn giả Mục Kiền Liên

3.Tôn giả A Nậu Đà La (Aniruddha – Anuruddha)-  Thiên nhãn đệ nhất

Đạt được danh hiệu “Thiên nhãn đệ nhất” phải kể đến quá trình Tôn Giả A Nâu Đà La tu tập.

Tôn giả A Nâu Đà La có một tật nhỏ là hay ngủ gục khi nghe thuyết pháp. Bởi vậy, Đức Phật đã phải nhắc nhở đôi ba lần. Để bỏ đi tật xấu này, Tôn giả quyết tâm lập hạnh “không ngủ”. Ngài ngồi mở mắt ngày đêm cũng không chớp. Một thời gian sau thì mắt không chịu nổi, sưng phù và dẫn đến mù lòa.

Đức Phật khi đó đã tự mình cầm tay chỉ dạy Tôn giả may áo và phương pháp tu tập để mắt sáng trở lại. Sau khi kiên trì tập luyện, Tôn giả A Nâu Đà La đã lấy lại được con mắt cũng đạt được thần thông Thiên nhãn. Dù là ở xa hay gần, bên trong hay bên ngoài, Ngài có thể nhìn thấu được hết.

Sau đó, nhờ có sự chỉ dạy của Đức Phật, Ngài chứng đắc pháp thể nhập tánh thây viên dung, thấy được 3 cõi như một quả Amla được cầm trên tay. Vì thế được Phật ấn chứng là Thiên nhãn đệ nhất.

4. Tôn giả Ma Ha Ca Diếp (Mahakasyapa-Mahakassapa) – Đầu Đà đệ nhất

Tôn giả Ma Ha Ca DIệp dùng 

lối sống sinh hoạt đơn giản hóa, đề cao chủ trương  “Ít muốn, biết đủ, tinh tân, viễn ly”. Ngài sống một mình trong rừng dù tuổi tác đã cao. Sau 8 ngày tu hành, Ngày đắc quả A La Hán. 

Lối sống này rất thích hợp cho những người thích tu phạn hạnh như ngài. Tôn giả Ma Ha Ca Diếp được nhiếp hóa trước các vị Tôn giả ở trên nên được xem là Đầu Đà đệ nhất.

5.Tôn giả Tu Bồ Đề (Subhuti) – Giải Không đệ nhất

Trong Kinh sách có ghi lại rằng, lúc Tôn giả Tu Bồ Đề sinh ra, trong nhà xuất hiện triệu chứng “không”, vườn không nhà trống, mọi đồ vật đặt trong nhà bỗng dưng biến mất. Chỉ còn lại mùi hương chiên đàn cùng hào quang sáng cả 3 cõi. Gia đình Tôn giả đến hỏi thầy tướng và biết được đây là điềm lành. Nên đã đặt tên cho Ngài là Tu Bồ Đề mang ý nghĩa thiện hiền, thiện cát.

6.Tôn giả Ca Chiên Diên (Katyayana – Kaccayana, Kaccana) – Luận Nghị đệ nhất

Biệt tài của Tôn giả Ca Chiên Diên là dùng những lời nói đơn giản, dễ hiểu để khai thông, giải quyết vấn nạn cho một người. Suốt quãng thời gian hành hóa, Ngài đã cứu rỗi cho không biết bao nhiêu sinh linh. Giác ngộ và cảm hóa họ đến với Tam bảo, hướng tới cuộc sống an lạc, yên vui. Bởi vậy, ngài được tụng xưng là Luận Nghị đệ nhất.

7. Tôn giả Phú Lâu Na (Purna – Punna) -Thuyết pháp đệ nhất

Biệt tài ngôn luận của Tôn giả Phú Lâu Na rất nổi danh trong Phật giáo. Chỉ có Đức Phật mới có thể biện bác ngôn luận được với ông. 

Đức Phật rất thưởng thức tài năng này của Tôm giả và cho rằng, Tôn giả Phú Lâu Na thường thâm nhập biển Phật pháp hay làm lợi ích cho mọi người cùng tu đạo. Ngài dùng thuyết pháp trường mãn của mình để giảng pháp, giải thích sâu sa, giác ngộ cho chúng sinh.

8. Tôn giả Ưu Ba Ly (Upali) – Trì giới đệ nhất

Tôn giả Ưu Ba Ly là đệ tử đầu tiên của Đức Phật xuất thân từ tầng lớp nô lệ. 

Tôn giả từng hành nghề cạo tóc trong vương cung, xuất thân hèn kém nhưng với một lòng hướng Phật, muốn được xuất gia, gia nhập Tăng đoàn. Đức Phật hay tin, đã chấp thuận ông. Từ đây, Tôn giả Ưu Ba Ly trở thành một trong các vị đệ tử xuất sắc nhất của Đức Phật. Ngài được đảm nhiệm việc giao và xử lý tuyên luật.

9.Tôn giả La Hầu La (Rahula) – Mật hạnh đệ nhất

Được sinh ra trong một gia đình quý tộc có cha là Thái tử Tất Đạt Đa, mẹ là công chúa Da Du Đà La. Tôn giả được Đức Phật gửi gắm cho Xá Lợi Phất dạy bảo trong lần đầu tiên về thăm quê.

Chính nhờ sự giáo dục của Đức Phật và Xá Lợi Phất, sự vương giả, bễ nghễ trong dòng máu quý tộc của Tôn giả dần phai nhạt. Ngài dần trở nên ôn hòa, nghiêm túc tu tập, tinh tấn đạo tâm, quyết luyện mật hạnh.

Sau quá trình tu hành kiên trì, Ngài đã chứng được tận cùng của Mật hạnh. Được Phật khen là Mật hạnh đệ nhất.

10. Tôn giả A Nan (Ananda) – Đa Văn đệ nhất

Tôn giả A Nan một lòng muốn tu tập. Trong một lần Đức Phật về thăm hoàng cung, Ngài đã xin phép Đức Phật cho gia nhập Tăng đoàn và được chấp thuận.

Tôn giả A Nan là vị tỳ kheo đệ nhất về 5 phương diện là: Đa văn, cảnh giác, sức khỏe đi bộ, lòng kiên trì, hầu hạ chu đáo. Vào năm Đức Phật 56 tuổi, thánh chúng mong muốn Tôn giả làm thị giả Đức Phật. Tôn giả A Nan đồng ý với Thế tôn với điều kiện từ chối 4 việc, chấp nhận 4 việc:

Từ chối: Không cho tôn giả y, phòng ở, đồ ăn, mời ăn riêng. 

Chấp thuận: Thế tôn cho phép nếu Tôn giả được thí chủ mời đi thọ trai. Trường hợp có người ở phương xa tới để xin ý kiến, Thế tôn sẽ cho phép khi A Nan giới thiệu. Ngoài ra, Thế tôn sẽ cho A Nan yết kiến khi Ngài gặp chuyện khó xử. Đồng thời, Thế Tôn giảng lại các giáo lý cho trong lúc A Nan không có mặt.

Trên đây là những lý giải sơ lược về Thập đại đệ tử của Đức Phật. Rất mong sẽ giải đáp thược băn khoăn của các bạn.