Pháp bảo Phật giáo và ý nghĩa (phần 2)

5. Bát:

  • Xuất-xứ:

Trong Kinh Phật bổn hạnh có ghi xưa có hai thương gia người Ấn Độ phát tâm cúng dường Phật, nhưng Đức Phật không có đồ để đựng. Ngay khi đó, các vị Thiên Viên đã cúng Phật bát vàng, bát ngọc,… để đựng nhưng Phật đều không nhận. Sau cùng, khi các Thiên Vương dâng lên bát đá, Đức Phật mới hoan hỷ nhận.

  • Ý nghĩa, cách chế tạo và sử dụng:

Chữ Bát nguyên tiếng Phạn là Bát-da-la, dịch là Ứng lượng khí, nghĩa là một vật dùng đựng các thực phẩm vừa với sức ăn của một người.

Bát nhà Phật chỉ làm từ các chất liệu: đá, đất sét, gốm sứ, chứ không làm bằng bằng các vật liệu quý giá. Những đồ giá trị cao, người xuất gia không nên dùng. Đặc biệt, bát không nên được là bằng gỗ bởi bị phạm vào thứ bát của một giáo phái thờ Phạm thiên của Ấn Độ.

Ngày nay ở các nước Tiểu thừa Phật giáo như Ấn-Độ, Tích Lan, Miến Điện, Xiêm La v.v… chư Tăng thường đi khất thực, nên thường dùng Bát. Việt Nam đa phần thuộc phái Đại Thừa Phật Giáo nên chư tăng không đi khất thực. Chỉ bá tháng an cư kiết hạ hàng năm mới đặc biệt dùng tới bát mà thôi. Dưới đây là bài kệ đọc trong khi dùng bát: “Chấp trì ứng khí, đương nguyện chúng sanh, thành tựu pháp khí, thọ thiên nhơn cúng” và tiếp đọc câu chú “Án chỉ rị chỉ, rị phạ nhật ra hồng, phấn tra”.

6. Tích trượng:

  • Xuất-xứ:

Kinh trích trượng chép: “Phật dạy: Này các Tỳ-kheo, các người nên thọ trì Tích trượng, vì Tích trượng là một pháp khí mà 3 đời Đức Phật đều có thọ trì”.

  • Ý nghĩa và cách sử dụng:

Tiếng Phạn gọi là Khích-khí-la, từ Hán Việt là Tích trượng. Tích trượng là chiếc gậy của các chư Tăng dùng khi đi đường hoặc đi khất thực. Tích trượng như một vật dụng hỗ trợ cho những ai xuất gia tiếp tục tiến trên con đường đến được với quả vị giải thoát giác ngộ, Tích trượng được ví như chiếc gậy trí tuệ và phước đức đối với những ai tu tập một lòng hướng Phật. 

Trong kinh Tích trượng có chép: “ngài Ca-Diếp bạch Phật, bạch đức Thế-Tôn, thế nào gọi là Tích trượng? Phật dạy: Tích có nghĩa là khinh, nghĩa là nhờ ở chiếc gậy Đức hạnh và trí tuệ này mà phiền não được khinh bạt và ra khỏi ba cõi sanh tử. Tích cũng có nghĩa là minh, nghĩa là được trí sáng suốt vậy. Tích lại còn có nghĩa là tỉnh, nghĩa là tỉnh ngộ được rằng, ba cõi là khổ và không, và tích cũng có nghĩa là sơ, nghĩa là người cầm chiếc gậy này thì không còn say đắm ngũ dục nữa”.

Tích trượng do Đức Phật Thích Ca chế ra có kích thước vừa tay, cao không quá đầu người. Trên đỉnh tích trượng có 4 vòng, 12 khâu nhỏ bằng đồng, tượng trưng cho 4 đế và 12 nhân duyên. 

Còn loại tích trượng khác với 2 vòng và 6 khâu do Đức Phật Ca Diếp chế ra, còn gọi là Bách trượng thanh quy.

7. Y:

  • Xuất xứ:

Áo Cà sa hay Ca-sa đã có từ trước thời Đức Phật Thích Ca. Chính vì khi xưa, Đức Phật mang áo Ca-sa đi đắp cho các chúng xuất gia cùng với lòng kính trọng mà mới tu thành chính quả. Áo Ca-sa được gọi là giải thoát phục hay phước điền y.  

  • Ý nghĩa và các loại y:

Y là một thứ pháp phục của những người xuất gia. Pháp phục ở đây không chỉ là đồng phục đại diện cho Phật giáo. Mà còn là loại y phục tối giản dành cho người xuất gia. Ý nghĩa thì pháp phục đại biểu cho: Nhẫn nhục khải, phước điền y hay giả thoát phục v.v…

Y được chia làm 3 loại để dễ dàng phân biệt khi có Phật sự:

  1.  An đà hội: Dịch là Tác-vụ-y. Nghĩa là thứ y mặc trong khi làm việc khi ra đường. Y này có 5 điều, mỗi điều chia làm 3 khoản, 2 khoản dài một khoản ngắn.
  2. Uất-đa-la Tăng: Dịch là Nhập chúng Y. Y này dùng trong những khi nhập chúng, thọ trai, nghe giảng, tụng kinh, tọa thiền, lễ Phật, Tháp và các vị cao Tăng. Y này có 7 điều, mỗi điều chia làm 3 khoản, hai khoản dài và một khoản ngắn như kiểu y trên.
  3. Tăng-già-lê: Dịch là Tạp toái Y hay Đại Y. Nghĩa là thứ Y lớn nhất trong các loại Y. Thứ Y này chia làm 3 phẩm là Hạ, Trung và Thượng, Hạ phẩm

8. Tràng hạt:

  • Xuất xứ: Trong Kinh Mộc quán tử có ghi về nguồn gốc xuất hiện tràng hạt. Là một trong các pháp bảo mà Đức Phật tạo ra để giúp một vị Quốc Vương đến cầu xin cho đất nước yên bình. Tràng hạt gồm 108 hạt được tiện ra từ gỗ xâu lại thành chuỗi. Phật dạy Quốc Vương, mỗi khi lần một hạt sẽ niệm một câu “nam mô Phật, nam mô Pháp, nam mô Tăng” như vậy thì phiền não sẽ tiêu trừ. Sau khi được Đức Phật hướng dẫn cho cách tu tập, Quốc Vương không những tinh tấn tu luyện mà còn khuyến khích người dân cùng hành động, một thời gian sau thì tai biến trong nước giảm bớt, dân chúng hiền lành, sống một đời an lạc.

Bắt đầu từ đó phương pháp tu niệm lần tràng hạt mà nay thường gọi là “phương pháp sổ châu” được truyền rộng khắp nơi và được lưu truyền mãi cho đến ngày nay, trong khắp các giới Phật tử không mấy ai là không dùng đến tràng hạt trong khi tu niệm.

  • Ý nghĩa các loại tràng hạt: Tràng hạt là một pháp cụ để dùng trong việc tu tập trì niệm. Tràng hạt gồm có 3 loại: Loại 108 hột, loại 54 hột, và loại 18 hột.

Loại 108 hột là tượng trưng cho 108 phiền não. 108 phiền não được này bao gồm: 88 món kiến hoặc của tam giới (lục sắc và vô sắc giới), cộng với 10 tư hoặc ở dục giới và 10 món triền phược phiền não như: vô tàm, vô quý, tật, xan, hối, thùy miên, trạo cử, hôn trầm, sân hận, phú thành 108 phiền não (theo Luận câu xá quyển 21).

Loại chuỗi 54 hay 27 hột không có ý nghĩa gì đặc biệt, loại này được sinh ra vì sự tiện dụng của nó thay vì chuỗi 108 hạt.

Loại chuỗi 18 hột cũng gọi là chuỗi tay, tức là loại chuỗi mang ở tay. Số lượng của loại chuỗi này là 1/6 của loại chuỗi 108. Nhiều người cho rằng 18 hột này đại diện cho 18 vị La hán hay 18 vị Vương tử trong Pháp hoa kinh. Nhưng không có tài liệu nào ghi chép lại cả.