Pháp bảo Phật giáo và ý nghĩa (phần 1)

Đạo Phật có nhiều loại pháp bảo dùng với nhiều mục đích khác nhau. Như Chuông, khánh, trống, bảng,… để dùng trong các nghi lễ hay để hiệu lệnh quy củ trong chùa. Tràng hạt, bát, cà sa, tích trượng,… là phương tiện tu niệm và đại diện cho Phật giáo, mang ý nghĩa giáo pháp.

Tất cả những pháp bảo này đều có vai trò quan trọng trong quá trình tu tập. Pháp bảo cũng như kinh sách, đại biểu cho Phật, mang ý nghĩa cao thâm của chánh pháp, giúp người tu hành luôn nhớ về tu tập và dễ dàng tiến gần hơn đến con đường thoát khỏi khổ đau trần gian.

Sau đây là các pháp khí trong đạo Phật.

1. Chuông:

  • Xuất xứ: 

Trong dòng lịch sử thì chuông được nhắc tới trong Kinh Tăng Nhất A Hàm. Còn chuông có từ bao giờ thì hiện chưa có lời giải đáp. 

  • Ý nghĩa và cách sử dụng: 

3 loại chuông thường thấy là Đại hồng chung, báo chúng chung và gia trì chung:

– Đại hồng chung hay còn gọi là chuông u minh. Đại hồng chung là loại chuông lớn. Thường đánh vào lúc đầu đêm và cuối đêm để thức tỉnh mọi người khỏi những cơn vô thường, tiếp tục tinh tấn tu hành để chóng vượt ra ngoài vòng tối tăm đau khổ.

Đại hồng chung thường đánh 108 tiếng, ý chỉ dứt bỏ 108 phiền não căn bản (88 kiến hoặc, 10 tư hoặc, 10 triền: Vô tàm, vô quý, hôn trầm, ác tác, não, tật, trạo cử, thùy miên, phận, phú) của chúng sanh. 

– Báo chúng chung còn có tên gọi khác là Tăng đường chung, là thứ chuông dùng để báo tin trong khi nhóm họp, thọ trai và khóa tụng v.v… ở các tự viện.

– Gia trì chung là loại chuông dùng khi tụng kinh, lễ Phật để tạo nhịp, ra hiệu cho chúng tăng. 

2. Mõ:

  • Xuất xứ:  

Mõ được nhắc đến trong Sách Sắc tứ thanh quy pháp khí về chương Mộc ngư. Mõ được chạm theo hình cá, bởi cá là loài không bao giờ nhắm mắt. Ý chỉ tiếng mõ sẽ luôn thức tỉnh linh hồn khỏi cơn mê muội, ngày đêm tu tập, chóng thành chánh quả. 

  • Ý nghĩa và cách sử dụng: 

Mõ chia làm hai loại: Mõ hình bầu dục có chạm đầu cá và mõ hình điếu chạm nguyên hình con cá nằm dài. Loại mõ hình bầu dục dùng để đánh trong khi tụng niệm, còn loại hình điếu thì thường treo ở nhà chùa để đánh báo tin giờ trai phạn. 

Gõ mõ để tạo nhịp khi tụng kinh, lễ Phật, để kinh thỉnh tâm trí người tụng niệm khỏi hôn trầm. Mõ cũng được đánh để báo giờ ăn, tụ tập như bảng, khánh,…

3 .Trống:

  • Xuất xứ: 

Kinh Kim Quang Minh có nhắc đến trống phát sáng trong giấc mộng của Tín Tướng Bồ tát khi ngài kể cho Đức Thế Tôn. Tiếng dùi đập vào mặt trống rền vang nghe như lời kinh sám hối.

  • Ý nghĩa và cách sử dụng: 

Trống gồm hai loại là: trống Đại và trống Tiểu, tức trống kinh. Trống đại như tên gọi là thứ trống lớn, trống lớn sẽ được đánh vang trước khi đánh chuông u minh vào đầu và cuối đêm. Đánh theo thể thức bài Tam luân cửu chuyển. Tiếng trống là tượng trưng cho chánh pháp, chúng sanh nghe trống chánh pháp thì nghiệp chướng tất tiêu trừ và sẽ được thoát ly luân hồi sanh tử.

Ngoài ra, trong những khi thuyết pháp, khi làm lễ lớn ở điện Phật cũng đều sử dụng trống lớn. Khi thuyết pháp thì đánh 3 hồi để triệu tập thính chúng, còn khi làm các lễ lớn như thỉnh Tam-bảo, khai kinh v.v… thì đánh theo thể thức bài Bát-nhã-hội mà thường gọi là “chuông trống bát nhã”.

Còn trống tiểu là loại trống nhỏ, tiếng vang không lớn, dùng đánh trong những khi tụng kinh bái sám v.v… nên cũng gọi là “trống kinh”.

Trống tiểu không có quy luật đánh cố định. Đa phần các tăng đều đánh theo nhịp các bài kinh. Đánh trống này với mục đích là tạo nhịp, đỡ hơi cho người tán tụng, thứ nửa là giúp cho buổi lễ được tăng phần trang nghiêm long trọng và cũng là một món nhạc khí trong các món nhạc khí cúng dường Tam-bảo.

4. Bảng, khánh:

  • Xuất xứ: 

Sách tượng khí tiêu quyển thứ 18 có chép: “Ngài Vân Chương nói: hình của bảng giống như đám mây, nên người ta cũng thường gọi tên của bảng là Vân bảng.” Ngài Tục sự lão cũng có thuật: “Vua Tống thái Tổ cho rằng, tiếng trống hay giật mình người ngủ, nên thay vì dùng trống vua Tống Thái Tổ chế dùng thiết khánh (khánh bảng thiết).” Loại khánh này cũng gọi là chinh, tức là Vân bảng vậy.

  • Cách chế tác và sử dụng: 

Bảng và khánh đều dùng thay trống trong khi báo giờ thọ trai, giờ tu tập và giờ họp bàn. Bảng làm bằng gỗ và trổ theo bán hình bát giác. Bề dày của bảng khoảng chừng 4 tấc tây và bề cao khoảng hơn 2 tấc tây. 

Còn khánh cũng là một pháp khí như bảng. Cách dùng cũng không khác gì nhau, chỉ có hình thức và nguyên liệu chế tác là khác nhau mà thôi. Hình của bảng là hình bát giác và làm bằng gỗ, còn hình của khánh thì làm theo hình bán nguyệt, và đúc bằng đồng, hoặc có khi làm bằng đá cẩm thạch. Ngày nay ở các tòng lâm tuy cũng có sắm khánh nhưng ít khi dùng đến, chỉ chuyên dùng bảng mà thôi.

Bảng và Khánh ấy trong luật thường gọi là “Kiền chùy thành”.

Tham khảo các loại Pháp khí: https://vietlac.net/phap-khi-phap-phuc